Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống kiểm toán nội bộ của Cộng hòa liên bang
Đức và Trung Quốc, bài viết đi sâu vào việc nghiên cứu so sánh để khai
thác một số điểm khác biệt của hệ thống kiểm toán nội bộ của hai quốc
gia này trên 5 khía cạnh chính
Mặc dù kiểm toán nội bộ đã và đang trở thành một trong các chức năng và
thủ tục quan trọng nhất đối với kiểm soát nội bộ trong hoạt động tài
chính thông thường của các đơn vị, nhưng tại các quốc gia khác nhau,
với trình độ phát triển kinh tế khác nhau (quốc gia phát triển và đang
phát triển), các quy định về quản lý khác nhau, truyền thống văn hóa-xã
hội khác nhau thì hệ thống kiểm toán nội bộ cũng như phương pháp tiến
hành loại hình kiểm toán này cũng sẽ khác nhau. Trên cơ sở nghiên cứu
hệ thống kiểm toán nội bộ của Cộng hòa liên bang Đức và Trung Quốc, bài
viết đi sâu vào việc nghiên cứu so sánh để khai thác một số điểm khác
biệt của hệ thống kiểm toán nội bộ của hai quốc gia này trên 5 khía
cạnh chính sau:
(1) Sự hình thành và phát triển kiểm toán nội bộ
(2) Cấu trúc của hệ thống kiểm toán nội bộ
(3) Mối quan hệ giữa kiểm toán nội bộ của các đơn vị với cơ quan chính phủ
(4) Trách nhiệm và trách nhiệm giải trình của kiểm toán nội bộ
(5) Chất lượng kiểm toán viên nội bộ
Đồng thời bài viết cũng đưa ra một số gợi ý cho việc cải thiện hệ thống kiểm toán nội bộ của VN trong tương lai.
1. Sự hình thành và phát triển của kiểm toán nội bộ
Ở Trung Quốc, sự hình thành và phát triển của hệ thống kiểm toán nội bộ
được thúc đẩy bởi sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường
và việc thực hiện các chính sách quản lý của Chính phủ (Jou, 1997).
Tháng 8 năm 1983, Hội đồng Nhà nước Trung Quốc đã tiến hành trưng cầu ý
kiến và thông qua Yêu cầu ban hành một số vấn đề liên quan đến hoạt
động kiểm toán của Cơ quan KTNN Trung Quốc về việc thực hiện các hoạt
động kiểm toán trên cơ sở thiết lập các bộ phận kiểm toán nội bộ trong
các phòng, ban nhằm thực hiện sự lãnh đạo thống nhất của các công ty
con hoặc với nhiều công ty con, và các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Năm
1987, Hội Kiểm toán viên độc lập của Trung Quốc đã được thành lập và
tham gia vào Hội Kiểm toán viên Quốc tế vào tháng 12 năm đó. Năm 1988,
Hội đồng Nhà nước ban hành các chuẩn mực kiểm toán của Cộng hòa Nhân
dân Trung Hoa, trong đó, Chương VI có quy định về việc thiết lập và
trách nhiệm của bộ phận kiểm toán nội bộ, cũng như mối quan hệ giữa bộ
phận kiểm toán nội bộ với các cơ quan kiểm toán của chính phủ trong
công tác kiểm toán nội bộ. Năm 1994, Hội đồng nhà nước Trung Quốc đã
ban hành Luật Kiểm toán, và trong đó cũng xác định vị trí pháp lý của
kiểm toán nội bộ. Năm 1995, Cơ quan Kiểm toán nhà nước Trung Quốc đã
ban hành các Quy định về Kiểm toán nội bộ, nhằm cụ thể hóa các nguyên
tắc về kiểm toán nội bộ. Năm 2003, Cơ quan Kiểm toán Nhà nước Trung
Quốc đã chính thức áp dụng các quy định này đối với hoạt động kiểm toán
nội bộ, trong đó có điều chỉnh một số quy định đã ban hành năm 1994.
Trên cơ sở đó, số lượng kiểm toán viên nội bộ đã tăng lên một cách đáng
kể từ năm 1987, và đã có hơn 10 trung tâm được thành lập để kiểm tra
trình độ của các KTV nội bộ (CIA- Chứng chỉ kiểm toán viên nội bộ). Đến
cuối năm 2001, tại Trung Quốc đã có khoảng 76.000 bộ phận kiểm toán nội
bộ với 193.000 KTV có chứng chỉ hành nghề.
Ở Đức, sự hình thành và phát triển của hoạt động kiểm toán nội bộ là
sản phẩm của sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường và
việc thay đổi các mục tiêu của kiểm toán nội bộ (Wang, 2003). Văn phòng
kiểm toán nội bộ hiện đại đầu tiên của Đức được thành lập tại Công ty
Friendrich Krupp vào năm 1875. Hoạt động kiểm toán nội bộ phát triển
nhanh chóng tại Đứac trong khoảng 60 năm nửa sau thế kỷ XX. Trong giai
đoạn đầu, mục tiêu của kiểm toán nội bộ ở Đức là nhằm kiểm tra sai sót
và ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật. Cùng với sự phát triển của
nền kinh tế, cơ cấu của các doanh nghiệp kinh doanh trở nên phức tạp
hơn, và yêu cầu đặt ra là phải tăng cường kiểm soát nội bộ và hoạt động
quản lý. Do đó, mục tiêu của kiểm toán nội bộ đã phải thay đổi để nâng
cao lợi ích kinh tế của các doanh nghiệp. Các KTV nội bộ không chỉ là
thành viên của ban quản lý mà còn là những người bảo vệ doanh nghiệp.
Hiện nay, ở Đức số lượng KTV có chứng chỉ hành nghề trong các bộ phận
kiểm toán nội bộ đã lên tới khoảng 50.000 người.
2. Cấu trúc của hệ thống kiểm toán nội bộ.
Dựa vào tình hình thế giới có nhiều thay đổi như hiện nay, đã có
xuất hiện 3 dạng cấu trúc khác nhau về việc hình thành bộ phận kiểm
toán nội bộ trong 1 doanh nghiệp kinh doanh. Trong cấu trúc thứ nhất,
bộ phận kiểm toán nội bộ được thiết lập song song với Ban Giám đốc và
chịu sự quản lý trực tiếp của lãnh đạo ủy ban giám sát. Trong cấu trúc
thứ hai, bộ phận kiểm toán nội bộ được thiết lập song song với các
phòng ban khác trong doanh nghiệp và chịu sự quản lý của Ban Giám đốc.
Cuối cùng, trong cấu trúc thứ ba, bộ phận kiểm toán nội bộ được thiết
lập ở bên trong bộ phận tài chính, vì hoạt động kiểm toán nội bộ là một
trong những chức năng quan trọng của bộ phận tài chính. Theo cấu trúc
thứ nhất, các KTV nội bộ có sự độc lập tương đối trong suốt quá trình
kiểm toán bởi vì bộ phận kiểm toán được thiết lập và hoạt động mà không
có sự can thiệp từ bên ngoài cũng như không chịu bất kỳ tác động nào từ
các phòng, ban khác trong doanh nghiệp. Theo cấu trúc thứ hai, tính độc
lập của các KTV nội bộ cũng có giới hạn và bộ phận kiểm toán nội bộ gặp
khó khăn khi tiến hành kiểm toán các phòng, ban khác cùng cấp. Theo cấu
trúc thứ ba, hiển nhiên là các KTV nội bộ sẽ khó mà giữ được sự độc lập
trong quá trình kiểm toán vì phòng tài chính có chức năng giám sát tài
chính với các bộ phận trực thuộc cũng như các phòng, ban khác và kiểm
toán nội bộ cũng chỉ là một chức năng của phòng tài chính.
Ở Trung Quốc, tất cả các bộ phận kiểm toán nội bộ được cơ cấu vào
các doanh nghiệp kinh doanh theo hai hình thức hoặc là cấu trúc thứ hai
hoặc thứ ba. Còn ở Đức, tất cả các bộ phận kiểm toán nội bộ được thiết
lập dựa trên cấu trúc thứ nhất. Như vậy, có thể nói, trong suốt quá
trình kiểm toán, các bộ phận kiểm toán nội bộ ở Đức giữ được tính độc
lập cao hơn so với ở Trung Quốc.
3. Mối quan hệ giữa kiểm toán nội bộ và Chính phủ
Ở Trung Quốc, các bộ phận kiểm toán nội bộ tại các cơ quan thuộc
Chính phủ có mối quan hệ mật thiết với cơ quan ban hành quy định của
Chính phủ. Tất cả các bộ phận kiểm toán nội bộ thuộc doanh nghiệp được
thành lập theo hướng dẫn hành chính của chính phủ. Chuẩn mực số 29 của
Luật Kiểm toán Trung Quốc quy định việc thành lập các bộ phận kiểm toán
nội bộ, và các bộ phận kiểm toán nội bộ trong các cơ quan thuộc chính
phủ phải được hướng dẫn và chịu sự giám sát của chính quyền địa phương.
Chuẩn mực này làm rõ mối quan hệ giữa bộ phận kiểm toán nội bộ thuộc
doanh nghiệp và đơn vị kiểm toán chính phủ, đồng thời không quy định
các nguyên tắc cứng nhắc đối với việc thành lập các chức năng kiểm toán
nội bộ và cho phép có sự khác biệt giữa bộ phận kiểm toán nội bộ thuộc
doanh nghiệp với các đơn vị kiểm toán thuộc chính phủ (Jou, 1997; Cai,
1997)
Ngược lại, ở Đức không có điều luật hoặc quy định nào về việc thành
lập các bộ phận kiểm toán nội bộ. Các bộ phận kiểm toán nội bộ được
thiết lập theo cơ chế tự giác của các doanh nghiệp, và bộ phận này
trong các doanh nghiệp kinh doanh sẽ không chịu sự giám sát của chính
quyền địa phương (He, 2001). Trên thực tế, Hiệp hội Kiểm toán viên nội
bộ của Đức có chức năng làm cầu nối giữa Chính phủ, doanh nghiệp và các
cơ quan chuyên môn. Thông qua việc tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán,
Hội kiểm toán nội bộ của Đức thực hiện chức năng trao đổi kinh nghiệm
kiểm toán, truyền đạt các thông điệp kiểm toán, xây dựng các lý thuyết
liên quan đến hoạt động kiểm toán và hướng dẫn thực hành kiểm toán nội
bộ.
4. Trách nhiệm, trách nhiệm giải trình và nội dung của kiểm toán nội bộ.
Khoản 9 trong Quy định về Kiểm toán nội bộ do Cơ quan Kiểm toán Nhà
nước Trung Quốc ban hành đã quy định trách nhiệm của các KTV nội bộ như
sau:
(1) KTV nội bộ phải thực hiện kiểm toán các hoạt động kinh tế về
thu-chi tài chính công, thu-chi tài chính của các doanh nghiệp cũng như
các đơn vị thuộc và trực thuộc doanh nghiệp;
(2) Thực hiện kiểm toán việc quản lý và sử dụng vốn trong và ngoài ngân sách;
(3) Kiểm toán trách nhiệm giải trình của các lãnh đạo trong suốt nhiệm kỳ công tác của họ;
(4) Kiểm toán các dự án đầu tư xây dựng;
(5) Kiểm tra và đánh giá tính hợp lý và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ và việc quản lý rủi ro của đơn vị;
(6) Thực hiện kiểm toán hoạt động;
(7) Thực hiện các công việc kiểm toán khác theo yêu cầu và quy định của pháp luật.
Từ các chuẩn mực được liệt kê ở trên, có thể thấy rằng các hệ thống
kiểm toán nội bộ của Trung Quốc tập trung vào kiểm toán tài chính và
kiểm toán tuân thủ - một chức năng đơn lẻ. Do đó, kiểm toán nội bộ của
Trung Quốc chỉ nhấn mạnh chức năng giám sát, kiểm tra việc vi phạm các
nguyên tắc và quy định, mà không quan tâm đến việc làm thế nào để tăng
cường khả năng quản lý hoặc nâng cao hiệu quả phục vụ nhằm giúp ban
quản lý của doanh nghiệp ra các quyết định quan trọng.
Ở Đức, trách nhiệm của kiểm toán viên nội bộ bao gồm:
(1) Xác định xem liệu hệ thống kiểm soát và giám sát nội bộ có hợp lý và hiệu quả không;
(2) Đánh giá lợi ích kinh tế của các doanh nghiệp;
(3) Đám giá xem liệu luật pháp và các quy định có được tuân thủ hay không (Wang, 1999).
Ngoài ra, các kiểm toán viên nội bộ cũng phải cung cấp các dịch vụ
như tư vấn, hướng dẫn cho các đơn vị nhằm nâng cao hoạt động và giúp họ
giải quyết các vấn đề. Các hệ thống kiểm toán quản lý và kiểm toán hoạt
động – các chức năng phức tạp hơn bao gồm cả việc giám sát và cung ứng
dịch vụ.
5. Chất lượng kiểm toán viên nội bộ
Ở Trung Quốc, số lượng và chất lượng kiểm toán viên nội bộ còn thiếu
và chưa thỏa mãn được các yêu cầu thực tế. Nhiều kiểm toán viên nội bộ
hiện tại của Trung Quốc không được đào tạo chính quy ở bậc đại học chỉ
được đào tạo sơ bộ để đáp ứng công cuộc cải cách kinh tế vào những năm
1980, do đó, thiếu các khóa đào tạo nghề nghiệp cần thiết. Mặc dù nhiều
kiểm toán viên trẻ đã tham gia các lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ,
nhương phần lớn trong số họ mới tốt nghiệp đại học và chỉ được đào tạo
về nghiệp vụ kiểm toán.
Ngược lại, tại Đức, hầu hết các kiểm toán viên nội bộ đã được đào
tạo chính quy ở bậc đại học và họ cũng có thể nói được một hoặc hai
ngôn ngữ nước ngoài, đồng thời sử dụng vi tính rất thành thạo để phục
vụ cho hoạt động kiểm toán. Kiểm toán viên nội bộ của Đức được đào tạo
với nhiều lĩnh vực khác nhau như: kế toán, kiểm toán, quản lý tài
chính, kinh tế học, quản trị kinh doanh, kỹ sư, công nghệ thông tin,
luật, v.v. Đặc biệt hơn đó là Hội Kiểm toán viên nội bộ của Đức cũng
ban hành hơn 120 chuyên đề nghiên cứu thường niên nhằm truyền đạt kinh
nghiệm kiểm toán giữa các kiểm toán viên nội bộ (Wang, 2003).
Với 5 khía cạnh được sử dụng để so sánh hoạt động kiểm toán nội bộ của Trung Quốc và Đức đó là:
(1) Sự hình thành và phát triển kiểm toán nội bộ;
(2) Cấu trúc của hệ thống kiểm toán nội bộ;
(3) Mối quan hệ giữa kiểm toán nội bộ của các đơn vị với cơ quan chính phủ;
(4) Trách nhiệm và trách nhiệm giải trình của kiểm toán nội bộ;
(5) Chất lượng kiểm toán viên nội bộ;
Chúng ta có thể thấy rằng với trình độ phát triển kinh tế khác nhau,
các quy định về quản lý khác nhau, truyền thống văn hóa – xã hội khác
nhau thì hoạt động kiểm toán nội bộ ở các quốc gia khác nhau cũng sẽ
khác nhau rất nhiều.
Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra mộ số gợi ý cho hoạt động kiểm toán
nội bộ của Việt Nam và hy vọng với việc thực hiện các gợi ý này sẽ giúp
nâng cao chất lượng kiểm toán nội bộ của Việt Nam.
Thứ nhất, cần tăng cường tính độc lập của kiểm toán nội bộ. Tính độc
lập này được thể hiện trên thực tế đó là bộ phận kiểm toán nội bộ cần
phải được thiết lập mà không chịu sự can thiệp và tác động của các bộ
phận khác. Bộ phận kiểm toán nội bộ phải có khả năng đưa ra các ý kiến
và quyết định độc lập trong việc giải quyết những vấn đề phát sinh từ
cuộc kiểm toán. Ở Trung Quốc, vì bộ phận kiểm toán nội bộ có mối quan
hệ mật hiết với chính phủ và nó được cơ cấu đồng cấp với các bộ phận
khác hoặc được thiết lập bên trong bộ phận tài chính, nên hoạt động
kiểm toán không có sự độc lập nhất định với các quyết định của mình. Từ
kinh nghiệm đó, kiểm toán nội bộ phải được thiết lập theo cách thức mà
chỉ chịu sự giám sát của Ban Giám đốc, còn hoạt động của nhân sự trong
bộ phận kiểm toán nội bộ cần phải được luân phiên và tái phân công
nhiệm vụ một cách thường xuyên.
Thứ hai, nâng cao chất lượng kiểm toán viên nội bộ. Theo kinh nghiệm
của Đức, Hội Kế toán – Kiểm toán Việt Nam cần ban hành các chuyên đề
nghiên cứu nhằm truyền đạt kinh nghiệm kiểm toán cho các kiểm toán viên
nội bộ. Mặt khác, tất cả các kiểm toán viên nội bộ phải trải qua các kỳ
thi sát hạch chuyên môn nghiệp vụ và việc tuyển dụng các kiểm toán viên
nội bộ tương lai cần phải được mở rộng sang tất cả các lĩnh vực chuyên
môn có liên quan.
Thứ ba, đa dạng hóa nhiệm vụ của kiểm toán viên nội bộ. Theo kinh
nghiệm của Đức và xu thế phát triển kiểm toán viên nội bộ thế giới,
nhiệm vụ kiểm toán nội bộ của Việt Nam cần bao gồm hoạt động giám sát
và cung ứng các dịch vụ chuyên môn cho các đơn vị, tập trung hơn nữa
vào kiểm toán lợi kinh tế. Nhiệm vụ này sẽ giúp nâng cao lợi ích kinh
tế của các đơn vị cũng như toàn bộ nền kinh tế.
Thứ tư, tăng cường áp dụng công nghệ mới vào hoạt động kiểm toán nội
bộ. Vì kiểm toán viên nội bộ cần phải xử lý rất nhiều dữ liệu tài chính
nên việc áp dụng các thủ tục, quy trình kiểm toán mới cũng như công
nghệ mới để thực hiện chọn mẫu, nghiên cứu khả thi và kiểm toán máy là
hết sức cần thiết.
THS. Đặng Thị Hoàng Liên (Tạp chí NCKHKT)
Tapchiketoan.com