“Vòng kim cô” quanh lãi suất cơ bản
(10:32' 18/1/2010)
Ngày 16/5/2008, Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định 16 xác định cơ
chế điều hành lãi suất cơ bản VND, chặn đứng “phong trào” đua lãi suất
khi đó.
Cũng từ đó đến nay, chiếc
“vòng kim cô” này bị chỉ trích mạnh mẽ trong các hội thảo chuyên ngành,
và ngày 15/1/2010 tại Tp.HCM, lãi suất cơ bản và điều 476 của Bộ luật
Dân sự tiếp tục bị cày xới thêm một lần nữa.
Một quyết định cực chẳng đã!
Một đặc trưng nổi bật nhất trên thị trường
tiền tệ 5 tháng đầu năm 2008 là khan hiếm VND, lãi suất tiền gửi VND
liên ngân hàng tăng dữ dội, có thời điểm lên tới 30 - 40%/năm, đẩy các
ngân hàng thương mại vào cuộc chạy đua lãi suất vô cùng khốc liệt.
Hầu hết các ngân
hàng thương mại khi đó hoạt động rất khó khăn, một vài ngân hàng nhỏ bị
tê liệt. Việc cho vay mới tại các ngân hàng gần như bị đình chỉ. Công
việc chính của các ngân hàng lúc đó là bằng mọi cách để cân đối thanh
khoản.
Chưa nói
đến chuyện lời lãi ở các ngân hàng, mà khả năng vỡ nợ ở một số ngân
hàng, khiến nhiều người liên tưởng đến hiệu ứng “domino” cho cả hệ thống
là khó tránh khỏi. Cùng với ngân hàng, doanh nghiệp là lực lượng kinh
tế hứng chịu hậu quả nặng nề nhất.
Lúc đó, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và
vừa, ông Cao Sĩ Kiêm đã công bố con số khiến những nhà quản lý phải giật
mình: “20% doanh nghiệp phá sản, 60% nằm im dưới dạng “chết lâm sàng”
và chỉ có 20% tiếp tục hoạt động”.
Trước tình hình đó, ngày 16/5/2008, Ngân hàng
Nhà nước ban hành Quyết định số 16/QĐ - NHNN, áp dụng cơ chế lãi suất
thị trường bao gồm lãi suất huy động - cho vay không được vượt quá 150%
của lãi suất cơ bản, được Ngân hàng Nhà nước công bố từng thời kỳ. Về
sau, cơ quan này cũng “nhốt” cả lãi suất trên thị trường liên ngân hàng
vào cùng “rọ” này.
Sự ra đời của quyết định trên cũng chấm dứt cơ chế lãi suất thỏa
thuận trong hoạt động tín dụng thương mại bằng VND tại Quyết định
546/2002/QĐ - NHNN ngày 30/5/2002 mà chính ngành ngân hàng đã dày công
xây dựng hàng chục năm ròng.
Gần như lập tức, thị trường tiền tệ được thiết
lập trật tự. Lãi suất huy động - cho vay được ổn định, chuyện rồng rắn
xếp hàng rút vốn ngân hàng này gửi sang ngân hàng kia để lấy lãi cao hơn
cũng giảm mạnh.
Cùng đó, Ngân hàng Nhà nước tăng cường giao dịch đối với nghiệp
vụ thị trường mở nên lãi suất trên thị trường dịch chuyển trở lại trạng
thái mong muốn của cơ quan điều hành.
Mặc dù vậy, phía ngân hàng thương mại rất "hậm
hực" khi phải chấp hành quyết định này. Hầu như tại các diễn đàn chuyên
ngành, những buổi trao đổi thông tin với giới truyền thông, họ đều bộc
lộ bức xúc nhưng bao giờ cũng chốt lại “đừng trích dẫn tên tôi nhé” vì e
ngại.
Kết
thúc chuyện: Buồn ngủ gặp chiếu manh?
Khi nhìn nhận về cơ chế điều hành lãi suất cơ
bản tại Quyết định 16 nói trên, dù Ngân hàng Nhà nước dẫn ra nhiều căn
cứ tham chiếu nhưng nổi lên trong đó là dựa vào điều 476 của Bộ luật Dân
sự: “Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150%
của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố”.
Thực ra, Ngân hàng
Nhà nước đã nhận thấy bất cập và vào tháng 3/2007, trên cổng thông tin
điện tử của Ngân hàng Nhà nước đã có ý kiến phản ánh vướng mắc do tổ
chức tín dụng cũng bị coi là “các bên” trong Luật Dân sự 2005; kéo theo
là hàng loạt hợp đồng cho vay của tổ chức tín dụng bị phạm luật vì: lãi
suất cơ bản là 8,25%/năm, đáng lẽ tổ chức tín dụng chỉ được phép cho vay
12,375%/năm thì phổ biến là hợp đồng chốt với nhau trên mức này.
Mặc dù vậy, mức độ
phản ứng của Ngân hàng Nhà nước với điều 476 cũng chỉ dừng ở đó. Tuy
nhiên, đến tháng 5/2008, khi thị trường tiền tệ bất ổn, Ngân hàng Nhà
nước đã sử dụng chiếc “gậy” này để bình ổn lãi suất.
Tại hội thảo lấy ý
kiến về dự án Luật Ngân hàng Nhà nước (sửa đổi) do Uỷ ban Kinh tế của
Quốc hội và Dự án Star Việt Nam tổ chức ngày 15/1/2010, bà Dương Thu
Hương, Tổng thư ký Hiệp hội ngân hàng bày tỏ: “Theo Luật Ngân hàng Nhà
nước năm 1997, lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố
làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh, tôi
thấy còn mập mờ và phiến diện”.
“Mập mờ là vì Ngân hàng Nhà nước dựa vào cơ sở
nào để xây dựng và công bố lãi suất cơ bản? Hơn nữa, loại lãi suất này
không được dùng để giải quyết mối quan hệ vay mượn thực của Ngân hàng
Nhà nước với các tổ chức tín dụng nên nó không phản ánh được mối quan hệ
giữa cung cầu về vốn trên thị trường tiền tệ”, bà Hương nói.
Mặt khác, lãi suất
cơ bản phiến diện ở chỗ chúng đóng vai trò “làm cơ sở” cho các tổ chức
tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh và không thể hiện quan hệ vay mượn
trên thị trường, trong khi Ngân hàng Nhà nước cũng chính là một chủ thể
trên thị trường. Thực tế, “làm cơ sở” cũng đồng nghĩa với “áp đặt” và đó
là điều không dễ chấp nhận khi Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu vào
thế giới.
Mặt
khác, Ngân hàng Nhà nước đã và đang có các công cụ lãi suất khác như lãi
suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất liên ngân hàng, lãi
suất nghiệp vụ thị trường mở. Và theo bà Hương, đó là loại lãi suất
được hình thành trên cơ sở mục tiêu của chính sách tiền tệ và trên quan
hệ có thực, xảy ra hàng ngày giữa Ngân hàng Nhà nước và tổ chức tín
dụng.
Ngay cả
trong quá trình thảo luận dự án Luật Ngân hàng Nhà nước (sửa đổi) gần
đây, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cũng nói: “...lãi suất cơ bản của chúng
ta hiện nay là không có thực, vì lãi suất này không có mối quan hệ vay
mượn nào giữa ngân hàng trung ương với tổ chức tín dụng”.
Như vậy, trong khi
chưa xác định được vai trò thực sự của lãi suất cơ bản mà lại dựa vào
đó để ấn định một loại lãi suất cho thị trường thì sự viển vông sẽ đến
mức nào?
Và
phải chăng, mục tiêu của điều 476 Luật Dân sự là tránh cho vay nặng lãi,
nhưng cơ quan quản lý trong tình thế bí bách đã biến chúng thành công
cụ hành chính để bình ổn lãi suất, nhưng là bình ổn theo cái cách làm
cho thị trường bị méo mó thêm?
Theo vneconomy