Sẽ “bán” rủi ro bảo hiểm nông nghiệp cho nước ngoài?
(15:0' 22/2/2010)
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) sắp
trình lên Chính phủ đề án bảo hiểm nông nghiệp do Công ty Cổ phần Bảo
hiểm Ngân hàng Nông nghiệp (ABIC) xây dựng.
Một điểm đáng chú ý trong đề
án là những rủi ro trong loại hình bảo hiểm này sẽ được chuyển ra nước
ngoài. Làm rõ hơn vấn đề, ông Đỗ Minh Hoàng, quyền Tổng giám đốc ABIC,
nói:
- Hiện nay
có thể nói bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam vẫn là con số không, trước
đây từng có một số doanh nghiệp từng triển khai thử nhưng đều thất bại.
Agribank vẫn
quyết tâm phát triển lĩnh vực này, vì vậy phải đúc rút kinh nghiệm của
những “anh cả” đi trước, những thất bại của họ do nhiều nguyên nhân.
Một, họ không có thị trường truyền thống trong lĩnh vực nông nghiệp để
đủ số đông người tham gia bảo hiểm. Hai, sản phẩm của họ chỉ triển khai
theo loại hình bảo hiểm truyền thống mang tính đơn lẻ. Nếu tính trên
từng loại hình rủi ro đơn lẻ, thì với nông dân sẽ có vô vàn yếu tố rủi
ro tác động, nên phí bảo hiểm sẽ rất cao, nông dân không thể chịu đựng
được.
Cả nước
có 13 triệu hộ nông dân, trong đó 10 triệu hộ là khách hàng của
Agribank; 2 triệu hộ thuộc diện cận nghèo là đối tượng khách hàng của
Ngân hàng Chính sách; 1 triệu hộ còn là khách hàng của khoảng 100 tổ
chức tài chính và các ngân hàng khác.
Theo quy định, mỗi hộ nông dân có thể được vay
tối đa 30 triệu đồng bằng tín chấp, không có thế chấp tài sản. Khi những
nông dân này gặp rủi ro, thì Agribank (mà đây cũng chính là vốn của Nhà
nước) sẽ mất khoản tiền cho vay đó, không thể thu hồi được. Tính trong
vòng 20 năm qua, có khoảng 1,8-1,9% số hộ nông dân vay vốn đã không có
khả năng trả được nợ vay. Bởi vậy từ trước tới nay, Agribank phải đưa
khoản này vào chi phí trích lập dự phòng những khoản nợ xấu, trích
1,8-1,9%, đánh vào lãi vay của nông dân.
Chính vì thị trường rộng lớn, và nhiều rủi ro
như vậy, nên Agribank thành lập ABIC để bảo tồn nguồn vốn đó trước các
thảm họa như thiên tai, dịch bệnh trong nông nghiệp để tiến tới thay thế
cho việc phải trích phí quá cao từ nông dân vay vốn.
Chúng tôi đang xây
dựng mức phí bảo hiểm bằng khoảng 50-60% mức tiền phải trích lập dự
phòng nợ xấu trên. Vấn đề bảo hiểm nông nghiệp đã được chúng tôi thai
nghén suốt từ khi viết dự án thành lập Công ty ABIC, được Bộ Tài chính
và Thủ tướng rất ủng hộ.
Với mức độ rủi ro cao như vậy, tỷ lệ phải chi
trả bảo hiểm trong nông nghiệp sẽ rất lớn. Làm thế nào để tránh được
nguy cơ vỡ quỹ bảo hiểm, thưa ông?
Hàng năm, thiên tai và dịch bệnh “cướp đi” của
Việt Nam 1,5% GDP, vì vậy không thể có doanh nghiệp ở nước ta dám liều
lĩnh với rủi ro lên tới 10 tỷ USD như vậy, ngay cả Agribank cũng không
đủ khả năng chi trả. Vì vậy, chúng tôi phải chuyển rủi ro nông nghiệp
ra nước ngoài.
Chúng
tôi đã lựa chọn đối tác là Swiss Reinsurance. Đây là tập đoàn tái bảo
hiểm của Thụy Sĩ, có tổng nguồn vốn cao gấp 30 lần nguồn vốn của
Agribank. Tập đoàn này đã cử chuyên gia cùng phối hợp với ABIC để xây
dựng các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp. ABIC sẽ triển khai bảo hiểm đến
nông dân, rồi bán những đơn bảo hiểm nguyên bản đó cho Swiss
Reinsurance.
Như
vậy, Swiss Reinsurance sẽ ôm trọn gói bảo hiểm cho nông nghiệp của Việt
Nam, còn ABIC thực chất chỉ là đơn vị làm đại lý bảo hiểm cho họ.
Hiện có 160 quốc
gia là khách hàng của Swiss Reinsurance, tức là 160 nước cùng gánh chịu
và chia sẻ rủi ro. Như vậy, thảm họa thiên tai dịch bệnh dù lớn đến đâu
thì cũng nằm trong tầm khả năng bảo hiểm, nguy cơ vỡ quỹ sẽ không còn là
vấn đề đáng lo lắng nữa.
Tuy nhiên, mình “bán” rủi ro cho nước ngoài,
bên mua cũng phải xem là có lợi cho họ thì họ mới mua chứ.
Xin ông cho
biết, bảo hiểm nông nghiệp sẽ có những sản phẩm nào mang tính khả thi
cao?
Trên
thế giới hiện có ba dòng sản phẩm bảo hiểm trong nông nghiệp.
Một là dòng truyền
thống, tính trên giá trị thu hoạch của từng cây trồng vật nuôi, thiệt
hại bao nhiêu thì công ty bảo hiểm sẽ trả cho nông dân bấy nhiêu.
Thứ hai là dòng
bảo hiểm theo chỉ số thời tiết. Các cố vấn cấp cao của Chính phủ đã tư
vấn chúng tôi nên thực hiện bảo hiểm theo chỉ số lũ lụt đối với vùng
đồng bằng sông Cửu Long. Năm nào vùng này cũng có lũ với mức độ cao dưới
1m, canh tác là cây lúa chịu nước, nước lên đến đâu thì lúa cao đến
đấy. Nhưng tần suất 7 năm/lần sẽ có lũ cao trên 1m, 20 năm/lần có lũ cao
trên 2m. Nếu lũ cao trên 1m, thì cây lúa sẽ mất mùa. Vì vậy khi lũ lên
cao 1- 2 m thì sẽ bảo hiểm toàn bộ, trả cho nông dân số tiền bằng giá
trị sản lượng lúa thu hoạch hàng năm.
Ở Tây Nguyên trồng nhiều cà phê, cao su... Khi
lượng nước tưới bị thiếu, thậm chí hạn đến mức không có nước tưới, dễ có
nguy cơ mất trắng vụ thu hoạch. Chúng tôi cũng đang nghiên cứu đưa sản
phẩm bảo hiểm theo chỉ số khô hạn vào triển khai.
Dòng sản phẩm thứ ba là bảo hiểm
theo chỉ số sản lượng. Chẳng hạn một giống lúa thường cho năng suất 7
tấn/ha. Khi bất kỳ một thiên tai, dịch bệnh, bão lũ, khô hạn, cháy...
nào đó tác động vùng trồng giống lúa này khiến sụt giảm sản lượng thu
hoạch, thì phần chênh lệch giữa sản lượng lúa lý thuyết và thu hoạch
thực tế sẽ được bồi thường.
Khi xảy ra rủi ro, cơ quan nào đứng ra giám định thiệt hại cho
nông dân, thưa ông? Chẳng lẽ công ty bảo hiểm tự giám định thì làm sao
đảm bảo tính minh bạch?
Loại sản phẩm bảo hiểm mà chúng tôi sắp triển
khai đã xác định đơn vị rủi ro của mình là cấp huyện. Phía đối tác Thụy
Sĩ đã nghiên cứu hệ thống phân tích thống kê của Việt Nam, họ tin cậy về
quy trình lấy mẫu, tính xác suất của cơ quan này.
Kết quả xác định thiệt hại sẽ dựa
trên hai nguồn. Một là, bản báo cáo thống kê thiệt hại tại từng huyện do
các cục thống kê đưa ra. Hai là, Swiss Reinsurance mua bản quyền, phân
tích từ hệ thống viễn thám vệ tinh địa tĩnh. Từ các bản chụp qua vệ tinh
này, họ phân tích ảnh quang phổ để biết toàn bộ lúa ở từng vùng có dịch
bệnh ở cấp độ nào, lượng mưa ra sao, ảnh hưởng của bão lũ như thế
nào...
Đối
chiếu hai nguồn đó, sự chênh lệch nhau dưới 15% là dễ dàng đi đến thống
nhất được mức độ thiệt hại.
Việc làm thủ tục bồi thường sẽ do chính quyền
cấp huyện và ABIC tiến hành. Nông dân không cần phải làm thủ tục gì cả,
họ chỉ việc nhận tiền, vì tiền bồi thường sẽ được trả đồng loạt tính
trên từng đơn vị diện tích (sào ruộng, hoặc ha) với mức chi trả như
nhau.
Theo vneconomy