Hiện
tại, Việt Nam đã thực hiện các chương trình cắt giảm thuế theo yêu cầu
của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), thực hiện tự do hóa thương mại
và đầu tư vào APEC đến năm 2020
Ngay sau khi chính thức gia nhập WTO, nước ta đã chủ động cắt giảm các
dòng thuế theo đúng cam kết. Từ ngày 11/1/2007 nước ta đã chủ động thực
hiện các cam kết ràng buộc toàn bộ Biểu thuế nhập khẩu gồm 10.689 dòng
thuế, mức giảm bình quân từ 17,4% xuống còn 13,4% với lộ trình thực
hiện sau 5 đến 7 năm và công bố cắt giảm 1.812 dòng thuế nhập khẩu với
mức thuế suất giảm bình quân là 14,5%. Từ 1/1/2008, theo cam kết với
WTO, sẽ có khoảng 1.700 dòng thuế được cắt giảm, với mức giảm phổ biến
từ 1- 6%, mức giảm này không chênh lệch quá lớn so với sắc thuế hiện
hành. Từ năm 2009 sẽ tiếp tục giảm khoảng 2.000 dòng thuế của hơn 20
nhóm hàng với mức tối đa khoảng 2%. Trong những năm tới, thực hiện các
cam kết với WTO Việt Nam tiếp tục cắt giảm thuế suất nhiều hơn đối với
hàng nghìn dòng thuế, không chỉ có thế mà thực hiện cắt giảm thuế quan
và hàng rào phi thuế quan theo nhưng cam kết song phương và khu vực.
Trước những con số ấn tượng từ việc cắt giảm các dòng thuế nhập khẩu
nhiều mặt hàng theo lộ trình, đã có nhiều ý kiến cho rằng số thu ngân
sách Nhà nước (NSNN) sẽ giảm mạnh do cắt giảm thuế quan. Thế nhưng,
trên thực tế tổng số thu NSNN từ đầu năm đến nay vẫn tăng trưởng, thể
hiện ở hiện tượng nhập khẩu của nước ta đã gia tăng mạnh trong thời
gian gần đây cả về quy mô tuyệt đối, cả về tỷ lệ so với GDP. Nếu năm
1995 mới có 8,15 tỷ USD, bằng 39,2% GDP, năm 2000 là 15,63 tỷ USD, bằng
50,1% GDP thì năm 2007 là 62,68 tỷ USD, bằng 88% GDP.
Như vậy, tuy việc cắt giảm hàng loạt các dòng thuế theo các cam kết đa
phương và song phương, khu vực và thế giới được thực hiện ngày càng sâu
rộng đối với hàng nhập khẩu thì kim ngạch nhập khẩu vẫn tăng, thể hiện
ở hiện tượng nhập siêu năm 2007 là 14,1200 tỷ USD và 6 tháng đầu năm
nay đã vượt cả năm trước đây. Nguyên nhân của số thu NSNN tăng mạnh
trong thời gian qua, do hiện tượng nhập siêu gia tăng nhanh chóng từ
khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO.
Năm 2008 mới qua 6 tháng, nhập khẩu đã lên đến 45,5 tỷ USD, tăng tới
64% so với cùng kỳ năm trước, lớn hơn mức nhập khẩu trong cả năm từ năm
2005 trở về trước. Do nhập khẩu cao hơn xuất khẩu nên nhập siêu những
năm gần đây tăng mạnh: nếu năm 2000 mới có 1.153,8 triệu USD, bằng 8%
tổng kim ngạch xuất khẩu và bằng 3,7% GDP thì năm 2007 đã lên đến
14.120,8 triệu USD, bằng 29,1% tổng kim ngạch xuất khẩu và bằng 19,8%
GDP. Năm 2008 mới qua 6 tháng, nhập siêu đã lên 14,7 tỷ USD, cao gấp
3,7 lần cùng kỳ năm trước (bằng 43% tổng kim ngạch xuất khẩu, cao hơn
nhiều so với tỷ lệ 23,1% của cùng kỳ), lớn hơn mức nhập siêu kỷ lục
trong cả năm 2007.
Như vậy, về nguyên tắc, giữa việc cắt giảm thuế và tăng tự do hóa kinh
doanh với việc nhập siêu có sự liên hệ trực tiếp. Thực tế cho thấy,
việc cắt giảm thuế khiến sức cạnh tranh của hàng nội và hàng ngoại càng
có sự cạnh tranh gay gắt, sức cạnh tranh về giá cả của hàng ngoại nhập
tăng. Cùng với việc “mở cửa” rộng hơn và tâm lý sùng bái hàng ngoại sẵn
có trong một bộ phận người tiêu dùng cấu thành trực tiếp làm tăng lượng
hàng nhập khẩu vào nước ta trong thời gian gần đây. Ngoài ra, việc dòng
vốn FDI đổ vào Việt Nam tăng cả về vốn cam kết và mức độ thực hiện,
cũng làm kích thích nhu cầu nhập thiết bị cho việc triển khai và hoạt
động của các dự án và giá cả hàng nguyên liệu và hàng hóa tăng cao
trong thời gian gần đây.
Giải pháp khắc phục nhập siêu
Quá trình thực hiện các hiệp định thương mại song phương, khu vực và đa
phương (trong đó có WTO) thì việc giảm thuế suất ngày càng sâu rộng đối
với hàng nhập khẩu là một tất yếu khách quan. Việc cắt giảm các dòng
thuế suất này trong thời gian gần đây của nước ta là một trong những
nguyên nhân dẫn đến hiện tượng nhập khẩu tăng cao, đã dẫn đến nhập siêu
lớn đe dọa cân đối nền kinh tế vĩ mô, làm tăng tỷ giá ngoại hối và còn
tác động đến lạm phát cao ở trong nước. Vì vậy, việc triển khai một số
một số giải pháp quản lý nhập khẩu mới phù hợp với quy định của WTO là
hết sức cần thiết.
Việc giảm thuế quan theo các cam kết đa phương, khu vực và song phương
có mặt tích cực như giảm chi phí đầu vào cho nhiều sản phẩm trong nước,
tạo sức thúc ép các doanh nghiệp phải đổi mới, nâng cao sức cạnh tranh
để giữ vững thị trường và hơn thế còn khai thác thuận lợi để đẩy mạnh
xuất khẩu (do cũng được các thành viên WTO giảm thuế và dỡ bỏ hàng rào
phi thuế quan đối với hàng hoá Việt Nam). Bởi vậy, giải pháp hàng đầu
là nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và toàn bộ nền
kinh tế. Trên cơ sở sản xuất, kinh doanh, quy mô thương mại trong nước
và xuất khẩu đều phát triển mạnh thì nguồn thu NSNN sẽ tăng trưởng
nhanh và bền vững.
Trong năm 2008 và những năm tới, tình trạng nhập siêu còn trầm trọng
hơn do hậu quả của chính sách bảo hộ thời kỳ tiền gia nhập WTO. Trong
điều kiện thực hiện chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu, hội
nhập nền kinh tế khu vực và thế giới, cần tiếp tục hoàn thiện khung
pháp lý phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là chức
năng bảo hộ của thuế nhập khẩu cần được điều chỉnh lại cho phù hợp.
Trước mắt cần xây dựng Biểu thuế nhập khẩu cho phù hợp với định hướng
bảo vệ có chọn lọc đối với ngành hàng kinh tế trong tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế. Các dòng thuế nhập khẩu cần điều chỉnh theo hướng bảo
vệ, hỗ trợ những ngành sản xuất có khả năng cạnh tranh trong một điều
kiện với một thời hạn và xuất khẩu trên thị trường khu vực và thế giới,
góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cầu kinh tế, định hướng phát triển
các ngành kinh tế phù hợp với mục tiêu đặt ra. Bảo hộ cũng cần có lộ
trình giảm dần, có như vậy chính sách bảo hộ mới có tác dụng nâng cao
sức cạnh tranh mà vẫn không phải triệt tiêu sức canh tranh của hàng hóa
trong nước. Về lâu dài, việc điều hành chính sách thuế nhập khẩu nên
dựa trên quan điểm coi đó là một công cụ bảo hộ sản xuất trong nước chứ
không phải là một nguồn thu quan trọng. Có như vậy, thuế suất thuế nhập
khẩu mới đáp ứng được là một hàng rào hữu hiệu để hạn chế nhập siêu và
bảo hộ sản xuất trong nước. Đây là xu hướng tất nhiên khi thực hiện
những cam kết quốc tế về hội nhập khu vực và quốc tế, đặc biệt là quy
định của WTO.
Về lâu dài, cần có phương án cụ thể để thuế hóa các hàng rào phi thuế
quan nhằm đáp ứng một nguyên tắc hàng đầu của WTO là chỉ bảo hộ bằng
thuế quan, mọi hàng rào phi thuế quan phải được loại bỏ. Việc thuế hóa
cần được tiến hành theo tiến độ và phương án cân nhắc cụ thể, sẽ tránh
cho nền kinh tế gặp phải những biến động đột ngột khi phải loại bỏ ngay
hàng rào phi thuế quan và thay bằng hàng rào thuế quan, nhất là trong
trường hợp chưa có giải pháp hữu hiệu khác để bảo vệ hợp lý nền sản
xuất nội địa và ngăn chặn gian lận thương mại.
Bên cạnh đó, phải đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, thực hiện thuận
lợi hóa thương mại, đặc biệt về thủ tục hải quan cần nhanh chóng áp
dụng rộng thủ tục hải quan điện tử, kết hợp các tiêu chí quản lý rủi ro
và hoạt động quản lý tuân thủ vì lượng hàng hóa thông quan ngày một
tăng mạnh.
Ngoài ra, việc thay đổi thói quen xuất khẩu hàng hóa giá FOB và nhập
khẩu hàng hóa giá CIF bằng xuất khẩu giá CIF và nhập khẩu giá FOB tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam thu được tiền bảo hiểm và cước
tàu, xuất khẩu theo giá CIF cũng khuyến khích doanh nghiệp bảo hiểm và
vận tải Việt Nam phát triển mạnh hơn. Việc xuất khẩu theo điều kiện CIF
và nhập khẩu theo điều kiện FOB không còn quá mới mẻ với các doanh
nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, do thói quen và do thiếu thông tin nên các
doanh nghiệp chưa lưu ý đúng mức về vấn đề này. Vấn đề thay đổi thói
quen là khó nhưng không phải không thực hiện được mà cần có sự quyết
tâm của cộng đồng doanh nghiệp cũng như công tác tuyên truyền, vận
động, áp dụng những biện pháp khuyến khích của chính phủ./.